NỘI DUNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT THÁNG 3/2020

Thứ hai - 06/04/2020 16:59
          NỘI DUNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT THÁNG 3/2020
(Kèm theo Công văn số 87/HĐ ngày  18 /3/2020 của Hội đồng PH PBGDPL thành phố)
I. Một số nội dung cơ bản Nghị quyết số 177/2019/NQ-HĐND ngày 15/12/2019 của HĐND tỉnh Hà Tĩnh quy định chính sách hỗ trợ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2020-2025
   1. Đối tượng được hỗ trợ
Là người lao động làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện từ 01/01/2020.
2. Mức hỗ trợ từ ngân sách tỉnh
Người lao động tham gia BHXH tự nguyện được ngân sách tỉnh hỗ trợ 20% mức đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn áp dụng trong từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Cụ thể mức hỗ trợ trong năm 2020 là: 30.800 đồng/người/tháng. Những năm tiếp theo mức hỗ trợ người lao động tham gia BHXH tự nguyện sẽ được điều chỉnh theo mức chuẩn nghèo mới do Thủ tướng Chính phủ quy định (nếu có).
Như vậy tổng mức hỗ người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng từ 01/01/2020 là:
- Người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ Nghèo mức hỗ trợ là: 77.000 đồng/người/tháng. Trong đó Ngân sách TW hỗ trợ 46.200 đồng, Ngân sách tỉnh hỗ trợ 30.800 đồng.
- Người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ Cận nghèo mức hỗ trợ là: 69.300 đồng/người/tháng. Trong đó Ngân sách TW hỗ trợ 38.500 đồng, Ngân sách tỉnh hỗ trợ 30.800 đồng
- Người tham gia BHXH thuộc đối tượng còn lại mức hỗ trợ là: 46.200 đồng/người/tháng. Trong đó Ngân sách TW hỗ trợ 15.400 đồng, Ngân sách tỉnh hỗ trợ 30.800 đồng.
3. Thời gian hỗ trợ từ ngân sách tỉnh.
- Đối với người lao động đã tham gia BHXH tự nguyện trước ngày 31 tháng 12 năm 2019: Thời gian hỗ trợ kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày người lao động kết thúc việc tham gia BHXH tự nguyện nhưng không quá ngày 31 tháng 12 năm 2025.
- Đối với người lao động tham gia BHXH tự nguyện sau ngày 01 tháng 01 năm 2020: Thời gian hỗ trợ kể từ ngày người lao động đăng ký tham gia BHXH tự nguyện đến ngày người lao động kết thúc việc tham gia BHXH tự nguyện nhưng không quá ngày 31 tháng 12 năm 2025./.
II. Một số quy định về xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến bệnh truyền nhiễm
I. Cơ sở pháp lý:
- Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
- Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
II. Nội dung cụ thể:
1. Vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.
- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
+ Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Vi phạm quy định về áp dụng biện pháp chống dịch
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.00.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế;
+ Không thông báo Ủy ban nhân dân và cơ quan y tế dự phòng trên địa bàn về các trường hợp mắc bệnh dịch theo quy định của pháp luật.
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Che giấu tình trạng bệnh của mình hoặc của người khác khi mắc bệnh truyền nhiễm đã công bố là có dịch;
+ Không thực hiện hoặc từ chối thực hiện các biện pháp vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trong vùng có dịch.
(Các mức phạt trên đây là mức phạt tiền đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm như của cá nhân thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân).
3. Về hành vi lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. (Mức phạt này áp dụng đối với tổ chức, trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như tổ chức thì mức phạt tiền bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức)./.
1. Tăng giá bán khẩu trang
Căn cứ khoản 1 Điều 11 và điểm b khoản 5 Điều 12 Luật Giá năm 2012, các cơ sở sản xuất, kinh doanh khẩu trang y tế phải niêm yết giá bán khẩu trang và không được bán cao hơn mức giá này.
Theo khoản 3 Điều 18 Nghị định 177/2013/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh không niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm phải niêm yết giá hoặc niêm yết giá không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng sẽ bị phạt từ 500.000 đồng - 01 triệu đồng; vi phạm nhiều lần, tái phạm sẽ bị phạt từ 01 - 03 triệu đồng.
Phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng đối với hành vi bán khẩu trang cao hơn giá niêm yết mà tổ chức, cá nhân định giá (khoản 3 Điều 12 Nghị định 109/2013/NĐ-CP).
 2. Không khai báo, che giấu dịch Covid-19 
Tại Quyết định 219/QĐ-BYT, Bộ Y tế đã bổ sung dịch bệnh Covid-19 vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A.
Theo đó, tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, người có hành vi vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm bị xử lý như nhau:
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 - 500.000 đồng đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.
- Phạt tiền từ 500.000 - 01 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
+ Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 3. Tung tin giả về dịch bệnh Covid-19
Trước khi Nghị định 15/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 15/4/2020) thì tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP chưa có điều khoản riêng về xử phạt đối với hành vi đưa tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội mà quy định xử phạt chung đối với hành vi đưa tin giả mạo, sai sự thật (không phân biệt kênh đưa thông tin).
 
Căn cứ khoản 3 Điều 64 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp như sau:
Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Cung cấp nội dung thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
- Cung cấp nội dung thông tin không phù hợp với lợi ích đất nước;
- Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác.
Từ ngày 15/4/2020, các quy định tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP sẽ được thay thế bởi Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Theo đó, tại Điều 101 Nghị định này quy định rõ hơn về mức phạt đối với hành vi tung tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội, cụ thể:
Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
- Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
- Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân.
Ngoài việc phạt tiền, người có hành vi vi phạm buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.
Lưu ý: Đối với người có hành vi vi phạm như tung tin giả mạo, không đúng sự thật về dịch bệnh Covid-19 trước ngày 15/4/2020, nhưng bị lập biên bản vi phạm hành chính từ ngày 15/4/2020 thì áp dụng Nghị định 15/2020/NĐ-CP để xử phạt (theo khoản 2 Điều 123 Nghị định 15/2020/NĐ-CP).
4. Không đeo khẩu trang nơi công cộng
Căn cứ theo khoản 1 điều 11 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng đối với hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch hoặc người có nguy cơ mắc bệnh.
Ngoài ra, căn cứ theo điều 240 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người khi người nhiễm bệnh có hành vi không đeo khẩu trang làm lây lan dịch bệnh cho người khác. Trong trường hợp này, người vi phạm có thể bị phạt tù từ 01 đến 12 năm.
5. Đang cách ly mà bỏ trốn
Đối tượng được áp dụng trong trường hợp này là những người nghi nhiễm F1, F2. Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm của hành vi trốn khỏi nơi cách ly mà xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
* Xử phạt vi phạm hành chính: Bị xử phạt đến 10 triệu đồng
Theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế, người nào từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, đối tượng kiểm dịch y tế biên giới mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A sẽ bị phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng, đồng thời bị buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế.
* Xử lý hình sự: Có thể bị phạt tù với mức cao nhất là 12 năm
Theo Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có hành vi đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người mà kết quả là làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Nếu hành vi này làm chết người thì mức phạt lên đến 10 năm, chết từ 02 người trở lên thì mức phạt là 10 - 12 năm tù giam.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 - 05 năm.
6. Cơ sở kinh doanh hoạt động trong thời gian bị yêu cầu tạm đóng cửa
Căn cứ theo khoản 4 điều 11 Nghị định 176/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng.
7. Tự ý đưa người, phương tiện không có nhiệm vụ vào khu vực đang cách ly
Căn cứ theo khoản 6 điều 11 Nghị định 176/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi đưa người, phương tiện không có nhiệm vụ mà ổ dịch tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng.
8. Từ chối tiếp nhận người bệnh vào cơ sở y tế
Căn cứ theo khoản 5 điều 9 Nghị định 176/2013/NĐ-CP thì với hành vi từ chối tiếp nhận người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A (cụ thể trong tình trạng hiện nay là dịch Covid-19) vào cơ sở y tế, chữa bệnh thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng.
III. Một số điểm nổi bật của Nghị định 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ về kiểm tra xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Ngày 12/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 19/2020/NĐ-CP về kiểm tra xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực ngày 31/3/2020. Các quy định về xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại các Điều 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 và 29 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.
Theo đó, từ ngày 01/7/2020, theo Nghị định 19/2020/NĐ-CP các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sẽ bị xử lý kỷ luật như sau:
1. Các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
- Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính.
- Không xử phạt vi phạm hành chính; không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật.
- Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật.
- Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.
- Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.
- Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra.
- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra.
- Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra.
- Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức.
- Không thực hiện kết luận kiểm tra.
- Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra.
- Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.
- Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà  nước và biện pháp xử lý hành chính.
- Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.
- Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.
2. Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
- Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật theo các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, Giáng chức, cách chức, buộc thôi việc
- Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung khác có liên quan đến việc xử lý kỷ luật công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức.
- Thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật. Việc xem xét, tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật cũng được áp dụng trong trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do hoàn cảnh khách quan hoặc do lỗi của đối tượng vi phạm hành chính.
- Việc xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ có hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình xử lý VPHC, công chức, viên chức sẽ bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc nếu có một trong các hành vi vi phạm sau
- Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;
- Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
- Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính./.
 

Nguồn tin: MNBH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây